Go Back   ๑๑۩۞۩๑๑...TuThienBao.Com...๑๑۩۞۩๑๑ > VI - ♥ Không Gian IT ♥ > 27 - Ebook Tổng Hợp - SÁCH GIẢI FULL > Khoa Học Xã Hội > Văn Học Lớp 11


Tìm kiếm chủ đề bài viết ở đây trước khi hỏi TTB -Tìm bằng tiếng việt có dấu càng chính xác-Ví Dụ:Đánh vào Hwang mi ri để tìm truyện tác giả này
$$**=====DS Truyện Tranh Online=====**$$ $$**=====Truyện Tranh Mới Đang Update=====**$$

KHÔNG XEM ĐƯỢC ẢNH TRUY CẬP ĐỔI DNS CLICK VÀO ĐÂY


 
  #1  
28-09-2012, 12:20 PM
adminbao adminbao is offline
Đầy Tớ Của Nhân Dân
Facebook: https://www.facebook.com/tuthienbaocom

Default Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc trong quá trình dân chủ hóa của VN thời trung đại


Trả Lời Với Trích Dẫn

Văn học viết Việt Nam chính thức ra đời cùng với nền độc lập của nước ta (từ thế kỉ X), do những trí thức tài hoa sáng tạo nên, là một bước nhảy vọt của tiến trình lịch sử văn học dân tộc. Văn học viết Việt Nam chủ yếu là văn học của dân tộc Kinh, nó đóng vai trò chủ đạo và thể hiện những nét chính của diện mạo nền văn học dân tộc. Hai chủ đề lớn trong văn học Việt Nam là vận mệnh dân tộc và vận mệnh nhân dân đã xuyên suốt chiều dài lịch sử của văn học dân tộc. Tuy nhiên tùy theo tình hình lịch sử - xã hội mà có lúc chủ đề này nổi lên hàng đầu chủ đề kia lùi xuống làm hậu thuẫn và ngược lại. Về khuynh hướng vận động, văn học viết Việt Nam vận động theo ba khuynh hướng lớn: dân tộc hóa , dân chủ hóa và hiện đại hóa.


Từ 1858 đến cuối thế kỉ XIX, sự vận động của hai chủ đề có phần phức tạp. Nhà nước phong kiến phạm nhiều sai lầm, Thực dân Pháp cướp nước, đời sống nhân dân lâm vào cùng khốn. Văn chương theo chủ đề dân tộc và chủ đề vận mệnh nhân dân song song xuất hiện hoặc vừa chống giặc vừa cổ vũ những tấm gương anh hùng xả thân cứu nước vừa phê phán triều đình bất lực, hàng giặc vừa nêu mọi đau khổ của dân trước họa xâm lăng (Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Thông, Nguyễn Quang Bích , Phạm Văn Nghị, Nguyễn Khuyến,…và thơ văn khuyết danh). Trong đó nổi nhất là các sáng tác của nhà thơ mù yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, đặc biệt là các bài văn tế. Với thể tài văn tế, tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu đạt đến sự cân đối giữa tư tưởng tình cảm cao sâu với tài năng nghệ thuật bậc thầy. Cũng trong thể tài văn tế, nổi bật lên một hiện tượng có tính chất đột khởi thể hiện rõ nét nhất khuynh hướng dân chủ hóa trong phạm trù văn học trung đại: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.



1- Trước hết, cần làm sáng tỏ khái niệm dân chủ hóa trong tiến trình lịch sử văn học. Theo GS. Nguyễn Đình Chú : “Dân chủ hóa văn học có nghĩa là làm sao cho nền văn học ngày một thật sự là của toàn dân chứ không phải của riêng một thiểu số trong xã hội; làm sao để ngày một đông đảo nhân dân có điều kiện thưởng thức kể cả tham gia sáng tạo văn học; làm sao để ngày một cuộc sống tình cảm tâm hồn, khát vọng , lời ăn tiếng nói…của nhân dân được thể hiện , phản ánh chân thực hơn trong văn học; làm sao để ngày một hình ảnh nhân dân có vị trí lớn hơn trong tác phẩm văn học.” [2,8]

Tuy nhiên khái niệm nhân dân ở đây cần được hiểu một cách đúng đắn có tính chất lịch sử cụ thể và biện chứng chứ không sa vào một quan niệm giai cấp có phần thô thiển , máy móc. Nhân dân là tất cả người dân trong một nước, cố nhiên trong xã hội có giai cấp, có giàu nghèo như một thứ định mệnh thì việc coi trọng tầng lớp lao động nghèo khổ là cần thiết. Vì thế con đường dân chủ hóa có liên quan mật thiết với bản chất chính trị - xã hội của các thời kì lịch sử của đất nước.

2- Trong thời kì văn học trung đại, vấn đề dân chủ hóa tự nó có những nội dung riêng. Đó là việc xây dựng và phát triển quan niệm nhân dân của văn học dưới chế độ phong kiến mang bản chất là phi dân chủ, có ý thức hệ phong kiến , từng đặt chủ nghĩa tôn quân lên hàng đầu, có dòng văn học bác học, hàn lâm , quý phái chiếm vị trí chủ lực, chính thống , xa cách với cuộc sống nhân dân.

Con đường dân chủ hóa ở đây chính là con đường cưỡng lại, tách ra khỏi tình trạng ít nhiều có tính chất phi dân chủ đó để tìm một hướng đi khác cho văn học phù hợp với nhu cầu thẩm mĩ và cần thiết đối với cuộc sống của đại đa số nhân dân, đặc biệt là trong những thời đại nhân dân trỗi dậy hào hùng. Mặt khác nó cũng được sự nâng đỡ của những yếu tố tiến bộ trong các học thuyết, kể cả tôn giáo ở thời trung đại như chủ nghĩa nhân ái, tinh thần dân chủ của đạo Phật, chủ trương thân dân, bảo dân trong các trường phái Nho giáo, chủ trương sống gần gũi với tự nhiên, thuận theo tự nhiên của Lão Trang..

Vấn đề dân chủ hoá trong văn học trung đại được thể hiện trên cả hai phương diện nội dung lẫn hình thức ở mọi yếu tố của văn học: quan điểm sáng tác, cảm hứng đề tài , chủ đề, thể loại , nhân vật, ngôn ngữ, bút pháp nghệ thuật … mà gốc rễ của mọi vấn đề chính là thái độ, tình cảm và khả năng nhận thức tiến bộ , đúng đắn của nhà văn đối với nhân dân

3- Dân chủ hoá trong văn học là một quá trình gắn bó hữu cơ với khuynh hướng dân tộc hoá, hiện đại hoá. Bốn mươi năm cuối thế kỉ XIX cục diện chính trị - xã hội Việt Nam “ khổ nhục nhưng vĩ đại” là mảnh đất đã đơm kết nên sự hoà quyện gắn bó ấy một cách điển hình. Trong khuynh hướng dân chủ hoá văn học, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là một thành công có tính chất đột xuất.

3.1- Giai đoạn này, một mặt triều đình nhà Nguyễn phạm nhiều sai lầm, thực dân Pháp cướp nước, đời sống nhân dân lâm vào cùng khốn. Nguyễn Đình Chiểu sống ngay trên mảnh đất Miền Nam đang bị thực dân nuốt dần từng mảng, là người chịu cảnh “ tan nhà”, mất đất, mất quê trong những năm đầu chiến cuộc nổ ra và có vinh dự lịch sử là người giương lá cờ tiên phong của dòng văn học yêu nước, thân dân chống Pháp xâm lược qua hàng loạt sáng tác: Văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc, Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh, Văn tế Trương Định, Thơ điếu Trương Định, thơ điếu Phan Tòng, truyện thơ Ngư Tiều y thuật vấn đáp và hàng loạt các bài thơ Đường luật.

Và cũng trong sự nghiệp sáng tác dồi dào, quý báu ấy, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nổi lên như một kiệt tác bất hủ không chỉ ở chỗ “ Với bài văn tế này, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một tượng đài sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ. Ở đây là người nông dân nghĩa quân chống giặc, cứu nước” [8;31] mà còn ở chỗ với bài văn tế này, lời ăn tiếng nói của nhân dân như ùa vào trang văn làm tăng đáng kể tính chất hiện thực và tính trữ tình của tác phẩm.



3.2-Trước Nguyễn Đình Chiểu, văn chương Việt Nam đã từng là một thứ khí giới tinh thần sắc bén chống xâm lăng, với thơ Thần ( Lí Thường Kiệt), Hịch Tướng sĩ ( Trần Quốc Tuấn), Bach Đằng giang phú ( Trương Hán Siêu), Quân trung từ mệnh, Bình Ngô đại cáo ( Nguyễn Trãi),….Nguyễn Đình Chiểu đã kế thừa tinh thần quý báu ấy của tiền nhân và nâng nó lên một tầm cao mới trên con đường dân chủ hoá.

Bài thơ thần Nam quốc sơn hà từng được coi là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc, là tiếng nói chân lí lớn lao , vĩnh hằng , thiêng liêng nhất của dân tộc. Dù vậy, trong đó chủ nghĩa tôn quân phong kiến vẫn là hệ quy chiếu, là hòn đá tảng để xác định chủ quyền quốc gia dân tộc. Ở đây , hai khái niệm “ quốc “ và “ đế” đồng nhất với nhau. Khái niệm “dân” chưa có vị trí độc lập mà còn ẩn chìm trong hai khái niệm “quốc” , “đế”. Thời đại đó, chưa cho phép Lí Thường Kiệt nghĩ khác , viết khác. Chân lí “ Nam quốc sơn hà Nam đế cư” cũng chưa là chân lí của con người mà là chân lí của trời, được “ rành rành phận định tại sách trời”. Bởi chưng, chân lí của con người chỉ có được khi tuyệt đại đa số nhân dân có quyền làm chủ vận mệnh lịch sử của quốc gia dân tộc.

Thời Trần ngút trời “hào khí Đông A” nhưng ở trung tâm điểm của các sáng tác văn học cũng chỉ là những tráng sĩ, tướng lĩnh, Tiết chế của ba quân.

Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thâu

Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu

Nam nhi vị liễu công danh trái

Tu thính nhân gian chuyện Vũ Hầu

( Phạm Ngũ Lão)

Áng thiên cổ hùng văn đời Trần là Hịch tướng sĩ văn của Tiết chế Quốc công Hưng Đạo đại vương cho thấy bên cạnh quan điểm dân tộc rực sáng, quan điểm nhân dân cũng đã bộc lộ qua thái độ thiết tha gắn bó của vị chủ tướng với chư tì tướng để chống giặc , giữ nước nhưng ở đây cũng bộc lộ ý thức đẳng cấp phản ánh rõ nét quan hệ kinh tế đại điền trang của thời Trần. Trần Hưng Đạo “bảo” các tướng sĩ trong tư thế như chủ nói với gia thuộc: “ Nay các ngươi muốn ăn ta cho ăn, muốn mặc ta cho mặc; muốn đi bộ thì ta cho ngựa , muốn đi thuỷ thì ta cho thuyền…” . Chủ nhân vẫn là người tiên ngộ , tiên giác, đóng vai trò khuyên nhủ, rèn cặp, giáo huấn thuộc hạ. Trần Hưng Đạo đã không viện đến mệnh trời, được ghi nhận như một bước tiến về tư tưởng nhưng ông cũng không thể vượt khỏi những quy định ngặt nghèo của điều kiện kinh tế lịch sử thời đại nhà Trần cuối thế kỉ XIII.

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, nhân dân Đại Việt giành lại quyền độc lập tự chủ sau hai mươi năm Minh thuộc, văn học trung đại cũng ghi thêm một mốc son chói lọi trong sự vọt tiến của lập trường nhân dân, tư tưởng dân chủ bằng Bình Ngô đại cáo được Nguyễn Trãi thay lời Lê Lợi để viết.

Lê Lợi từ vai trò người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đại thắng , trở thành ông vua của triều đại mới, đọc lời đại cáo với cương vị là nhân vật trung tâm của tác phẩm nhưng trong nội dung bài cáo thì quan điểm nhân dân đã được đặt lên hàng đầu. Trong bài cáo, lí tưởng chiến đấu là vì dân:“ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” . Nỗi căm thù quân xâm lược là vì dân: “ Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn; vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”,“ Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập,thuồng luồng/ Kẻ bị đưa vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng thiêng nước độc”. Đặc biệt lực lượng làm nên sức mạnh chiến đấu trời long đất lở là dân: “ Giơ gậy làm cờ manh lệ bốn phương tụ tập”. Cuộc kháng chiến toàn dân chống giặc Minh xâm lược quả tình đã nâng quan điểm nhân dân của Nguyễn Trãi lên một tầm cao chưa từng có trong lịch sử trước đó. Bài học lịch sử xương máu này được Nguyễn Trãi rút ra từ thất bại của nhà Hồ, năm 1407- họ Hồ chỉ lo đúc súng, đóng thuyền chiến , giăng lưới sắt , đóng cọc trên sông để nghênh địch chứ không thể cố kết lòng dân thành một khối vững bền. Chính Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng, con trai trưởng của Hồ Quý Ly, đã nói rõ nhược điểm ấy : “ Tôi không sợ đánh chỉ sợ lòng dân không theo”. Cuộc kháng chiến của hai vua Hậu Trần nổ ra và thất bại mấy năm sau thất bại của nhà Hồ cũng đã để lại những bài học lịch sử sâu sắc về vai trò của dân trong sự nghiệp cứu nước, giữ nước.

Thế nhưng trong bài Bình Ngô đại cáo, vai trò “ lo trước thiên hạ” thực hiện “mệnh trời” vẫn là của lãnh tụ nghĩa quân:

“ Ngẫm thù lớn há độ trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống

(…) Quên ăn vì giận , sách lược thao suy xét đã tinh

Ngẫm trước đến nay, lẽ hưng phế đắn đo càng kĩ

(…) Tự ta ta phải dốc lòng vội vã hơn cứu người chế đuối

(…) Trời thử lòng trao cho mệnh lớn

Ta gắng chí khắc phục gian nan”

Người dân chưa có vai trò tự giác, chủ động dấy lên cuộc khởi nghĩa.

Từ thế kỉ XVI trở đi, nền độc lập dân tộc không còn trực tiếp bị đe doạ căng thẳng, nhiệm vụ dựng nước với nội dung chăm lo đời sống cho nhân dân trở nên nổi trội. Đặc biệt là giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII- nửa đầu thế kỉ XIX, về mặt lịch sử đây là thế kỉ nông dân khởi nghĩa mà đỉnh cao là khởi nghĩa nông dân Tây Sơn, văn học trung đại đã tiến thêm một bước mới trong quan điểm nhân dân. Văn chương đi vào chủ đề vận mệnh nhân dân, phê phán tố cáo, lên án áp bức bóc lột, của giai cấp thống trị, vẽ ra bức tranh hài hước về bước đường suy sụp không sức gì cứu vãn của chế độ phong kiến , theo sát vận mệnh nhân dân , cảm thông với vô vàn nỗi khổ, ngợi ca phẩm chất đạo đức , trí tuệ, tài năng của họ, phát hiện ra con người cá nhân đối lập với con người của quan hệ phong kiến Nho giáo, đặt ra một cách trực diện vấn đề quyền sống của con người ( Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, Truyền kì mạn lục ; Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm, Hoa Tiên , Truyện Kiều, Hoàng Lê nhất thống chí, thơ Hồ Xuân Hương , Cao Bá Quát…)

Với Truyện Kiều của Nguyễn Du, quan điểm nhân dân không tồn tại dưới dạng phát ngôn trực tiếp mà đã hoà tan vào cốt truyện và hình tượng, vào thân phận nhân vật trong đó nổi lên một tình thương bao la đối với mọi kiếp người đau khổ, đặc biệt là người phụ nữ. Trong tiếng kêu đau thương ngút trời của Nguyễn Du cho “ phận đàn bà” – Đau đớn thay phận đàn bà- hẳn là không phân biệt đẳng cấp, chủng tộc. Ở đây quan điểm nhân dân đã vươn tới quan điểm nhân loại.



3.3- Trong các tác giả văn học lớn thời trung đại, Nguyễn Đình Chiểu có vinh dự là người có nhiều sáng tác giá trị vắt ngang qua mốc thời gian 1858.



3.3.1-Trước 1858, tác phẩm Lục Vân Tiên xứng đáng là khúc ca chiến thắng của những người kiên quyết vì chính nghĩa mà chiến đấu. Tác phẩm có tầm ảnh hưởng sâu rộng ở Miền Nam, và cả vùng trung- nam Trung bộ chẳng kém tầm ảnh hưởng của Truyện Kiều đối với cả nước. Xin đơn cử ngay gia đình của người viết bài này ( ở Bình Định) để hình dung mức độ “phổ cập” của Lục Vân Tiên: Bà ngoại (sinh 1904) không hề biết chữ nhưng thuộc lòng Lục Vân Tiên từ đầu chí cuối, mẹ (sinh 1934) học lớp ba thời kháng chiến chống Pháp cũng thuộc lòng truyện trước khi biết chữ, cậu (sinh 1927) học sơ học yếu lược trước năm 1945 thuộc lòng cả Lục Vân Tiên và Truyện Kiều. Bản thân (sinh 1961) từng nghe bà , cậu , mẹ đọc Lục Vân Tiên và cũng thuộc được nhiều đoạn trước khi cắp sách tới trường. Sự thật là từ vùng trung Trung bộ trở vô, giới có học vấn mới thuộc Truyện Kiều và đương nhiên cũng thuộc cả Lục Vân Tiên, giới ít học hoặc thất học vẫn có nhiều người thuộc Lục Vân Tiên, say Lục Vân Tiên.

Người đọc xưa nay yêu quý Lục Vân Tiên vì chàng là người con hiếu thảo, người thanh niên có lí tưởng cao cả sẵn sàng quên hết mọi lợi ích riêng tư, dũng cảm đánh cướp Phong Lai, cứu dân, đánh giặc Ô Qua, cứu nước; yêu quý Kiều Nguyệt Nga vì nàng có tấm lòng thuỷ chung son sắt, nghĩa tình trọn vẹn; yêu quý Hớn Minh vì Hớn Minh không sợ quyền uy, thẳng tay trừng trị công tử con quan địa phương cậy thế làm càn, ức hiếp dân nữ. Ai không thích cái giọng kể lại thật thản nhiên theo đúng tinh thần “ kiến nghĩa bất vi vô dũng dã” của Hớn Minh về việc chàng ra tay trừng trị Đặng Sinh:

‘ Giàu sang ỷ thói dọc ngang


Gặp con gái tốt cưỡng gian không nghì


Tôi bèn nổi giận một khi


Vật chàng xuống đó bẻ đi một giò”.


Người đọc yêu quý Vương Tử Trực vì chàng đã biết mắng cha con Võ Công một cách quang minh chính đại : “ Nói sao mà chẳng hổ thầm

Người ta há phải loại cầm thú sao”.

Người đọc yêu quý ông Quán , ông Ngư, ông Tiều, tiểu đồng, những nhân vật chưa kịp có tên riêng nhưng nghĩa khí , nghĩa tình, đạo đức không chê vào đâu được:

“ Quán rằng :“ Ghét việc tầm phào

Ghét cay ghét đắng quét vào tận tâm

Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm

Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang

Ghét đời U, Lệ đa đoan

Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần”



3.3.2- Giặc đánh chiếm quê hương, thơ văn Nguyễn Đình Chiểu chuyển từ đề tài đạo đức sang đề tài đánh giặc Tây, cứu nước. Ông đứng trên lập trường nhân dân tố cáo tội ác của giặc Tây xâm lược:

Phạt cho đến người hèn , kẻ khó , thâu của quay treo. Tội chẳng tha con nít , đàn bà đốt nhà bắt vật.

Kể mười mấy năm trời khốn khổ, bị khảo , bị tù , bị đày , bị giết, trẻ già nào xiết kể tên.

Đem ba tấc hơii mọn bỏ liều, hoặc sông , hoặc biển , hoặc núi , hoặc rừng, quen lạ thảy đều rơi nước mắt

( Văn tế nghĩa sĩ trận vong Lục tỉnh)

Ông nhiệt liệt biểu dương anh hùng Trương Định vì dân , theo dân đánh giặc:

Bỡi lòng chúng chẳng nghe thiên tử chiếu , đón ngăn mấy dặm mã tiền,

Theo bụng dân phải chịu tướng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại

( Văn tế Trương Định)





3.3.3 Đặc biệt trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, lần đầu tiên trong lịch sử văn học trung đại hình tượng những người nông dân mến nghĩa tự nguyện kết thành đội ngũ đứng lên đánh giặc trở thành nhân vật trung tâm của văn học:



Mở đầu bài văn tế-‘Súng giặc đất rền.Lòng dân trời tỏ”- tác giả đã khái quát đầy đủ hai mặt của một biến cố chính trị lớn: Cuộc xâm lăng ào ạt bằng vũ khí tối tân của thực dân Pháp và ý chí chống xâm lăng của nhân dân hiện lên sáng ngời-



Ở phần thích thực, bài văn đã dẫn dắt người đọc đi sâu vào lôgich tâm tư- hành động của những nghĩa sĩ- nông dân

Nguồn gốc chính tông của họ là những nông dân nghèo khổ “côi cút làm ăn”, cần cù lao động “chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ”, chất phác hiền lành:

Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó:

Khi Pháp xâm lược, họ lo âu, từng ngày , từng giờ chờ đợi ứng phó của triều đình “ trông tin quan như trời hạn trông mưa”. Nhưng họ đã uổng công và thất vọng. Cuộc sống của họ bị cái mùi hôi tanh của kẻ thù làm ô nhiễm, họ căm ghét chúng. Tâm lí chờ đợi, căm ghét của họ được miêu tả chân thực bằng lời văn giản dị, những cách ví von quen thuộc . Kẻ thù ngày càng lộ diện, nghênh ngang (bòng bong che trắng lốp; ống khói chạy đen sì), sự căm ghét của người nông dân đã nâng lên thành thái độ căm thù mãnh liệt, sẵn sàng bùng nổ ra thành hành động ( muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ.

Họ thật sự thấy cần phải xả thân đánh giặc giữ nước khi nhận thức được giá trị lớn lao của chủ quyền, bề dày của nền văn hiến dân tộc đang bị kẻ thù giày xéo:

Một mối xa thư đồ sộ, há để ai chém rắn đuổi hươu

Hai vầng nhật nguyệt chĩi lồ đâu dung lũ treo dê bán chĩ

Tác giả đã dùng những từ ngữ Hán Việt, điển tích điển cố, những hình ảnh tráng lệ, thiêng liêng khi viết về lòng ngưỡng vọng, tự hào sâu xa của người nông dân – nghĩa sĩ đối với Tổ quốc mình . Đó là nét đẹp đẽ cảm động nhất ở họ.

Họ tự nguyện trở thành nghĩa binh đánh giặc với khí thế hào sảng và quyết tâm cao ( đoạn kình, bộ hổ). Họ nhất định gánh lấy trách nhiệm bảo vệ đất nước đầy cao cả và khó khăn. Như vậy trước thái độ bạc nhược của triều đình, trước sự lấn lướt của kẻ thù, chính ý thức dân tộc, tình cảm yêu nước, lòng quả cảm đã thôi thúc người nông dân trở thành những nghĩa sĩ

Họ đánh giặc bằng tất cả các vật dụng trong cuộc sống thường ngày, lấy dụng cụ tầm thường ( hoả mai đánh bằng rơm con cúi, gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay,..) đương đầu với vũ khí tối tân của giặc . Ở đây cái vĩ đại đã hoà vào cái bình thường.

Nguyễn Đình Chiểu đã dốc toàn bộ tâm huyết để đặc tả người nghĩa quân trong phút công đồn. Đó là giờ phút giao tranh quyết liệt . Dung lượng câu văn được mở rộng, tiết tấu gấp gáp mạnh mẽ -do hàng loạt yếu tố trùng lặp, hàng loạt động từ mạnh, câu văn gối hạc với các vế câu ngắn nhằm truyền thần không khí căng thẳng , quyết liệt của trận đánh. Nghĩa quân hoàn toàn làm chủ trận địa, tả xung hữu đột, san bằng mọi thành luỹ, át cả tiếng súng, tiếng tàu thiếc, tàu đồng của Phú lãng sa :

“ Chi nhọc quan quản gióng trống kì trống giục, đạp rào lướt tới coi giặc cũng như không; nào sợ thằng tây bắn đạn nhỏ , đạn to xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có

Kẻ đâm ngang, người chém ngược làm cho mã tà , ma ní hồn kinh, bọn hè trước lũ ó sau trối kệ tàu thiếc , tàu đồng súng nổ”.

Hoài Thanh nhận xét: “ Có ai ngờ trong khuôn khổ một thể văn xưa mà lại có được một bức tranh công đồn như vậy, rất hiện thực, rất sinh động , và ngất trời tráng khí” [3;456] . Thật vậy, chỉ qua mười mấy câu văn, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên một tượng đài bi tráng về người nông dân đánh giặc cứu nước trong buổi đầu giặc Pháp xâm lăng đất nước ta.



“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” hàm chứa những tình cảm đẹp, tư tưởng rất tiến bộ của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu.



Có thể nói, phần ai vãn có lời văn vừa xót xa, vừa an ủi , vừa tri ân đi đôi với sự căm giận khôn nguôi đối với quân xâm lược. Tất cả là tiếng khóc , tiếng khóc của chính tác giả đã đành. Còn có cả tiếng khóc của hàng vạn , hàng triệu nhân dân “ già trẻ”. Khóc cho người nghĩa sĩ hy sinh đã đành mà còn khóc cho quê hương , đất nước, dân tộc đang cần người dũng cảm, đồng thời nói hết nỗi trắc ẩn của mình về số phận nhân dân trong cơn tao loạn và trong sự nghiệp cứu nước. Đúng là “ một tiếng khóc lớn, một tiếng khóc có tầm vóc thời đại , có tính chất sử thi” [9; 28]



Phần kết, với nghệ thuật trữ tình Đồ Chiểu đã viết nên những câu văn đạt đến độ toàn bích về nỗi đau mất mát trong chiến tranh vệ quốc xưa nay:

Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ; ngọn đèn khuya leo lét trong lều

Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng; cơn bóng xế dật dờ trước ngõ

Nhưng trái lại tác giả đã giúp người dân Việt phát hiện ra từ trong mất mát cái sức mạnh của sự sống, cái ý nghĩa cao đẹp của một thái độ sống tích cực, một quan niệm về sống và chết: chết vinh còn hơn sống nhục. Không thể “theo quân tà đạo”, “ở lính mã tà” đánh thuê, làm bia đỡ đạn, sống cuộc đời bán nước cầu vinh “chia rượu lạt, gặm bánh mì, nghe càng thêm hổ”. Trái lại, phải sống anh dũng, chết vẻ vang: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp nguyện được trả thù kia…”.Cái biện chứng từ cái chết sang sự sống, từ bi thương đau đớn đến tự hào ở đoạn văn này quả đã tạo được một sự tâm đắc rất mực chân thành ở độc giả. Có thể nói “ từ khoảnh khắc của cái chết bài Văn tế đã mở ra cái vĩnh cửu của sinh thành- vì cái chết đang gắn với cuộc vận động của dân tộc.

Về mặt nghệ thuật, Văn tế sử dụng một thứ ngôn ngữ bình dị như chính đời sống, cách nói, cách nghĩ và cách cảm của nhân dân miền Nam.

Trong văn chương trung đại chưa bao giờ, những công việc làm, vật dụng thô sơ , mộc mạc của nhà nông lại đi vài thơ văn ồ ạt trở thành những chi tiết đắt, những điểm nhấn nghệ thuật trong khắc hoạ nhân vật như thế: “cuốc, cày , bừa , cấy, ruộng , trâu, manh áo vải, ngọn tầm vông, rơm con cúi, lưỡi dao phay, tấc đất ngọn rau, bát cơm manh áo,..”
Cũng chưa bao giờ cách cảm , cách nghĩ của nông dân được thể hiện một cách trực tiếp mà giàu dư vị như thế: ‘ danh nổi tợ phao, tiếng vang như mõ; trời hạn trông mưa, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ; muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ, treo dê bán chó; mắc mớ chi ông cha nó, chia rượu lạt , gặm bánh mì,…”
Chính nhờ cách sử dụng ngôn ngữ trực tiếp từ đời sống và cách cảm , cách nghĩ quen thuộc , bình dị của người nông dân Nam Bộ ở nửa sau thế kỉ XIX như thế, bài văn tế , nhất là phần thích thực,đã thoát khỏi khuôn sáo ước lệ để từng mảng hiện thực của đời sống và nội tâm nhân vật trực tiếp đi vào trang văn với tất cả vẻ chân phác của nó. Đây cũng là con đường tăng cường tính nhân dân , tính hiện thực cho văn chương trong một giai đoạn có tính chất giáp ranh giữa hai phạm trù văn học trung đại và hiện đại. Giáo sư Trần Văn Giàu thật chí lí khi viết: “ Một hoạ sĩ thời nay đọc Nguyễn Đình Chiểu vừa có đủ sự kích thích về tinh thần vừa có đủ chi tiết tiêu biểu để vẽ thành bức tranh công đồn rất hiện thực của nghĩa binh Cần Giuộc” [7, 234]

Nhìn ở một tầm độ sâu hơn, nhằm cắt nghĩa lí giải sức chinh phục của hình tượng nghĩa sĩ nông dân, ta không thể không nói đến nghệ thuật điển hình hoá của tác giả nhằm tạo ra một sức mạnh nhận thức tổng hợp, trực cảm thẩm mĩ mạnh mẽ

Bài Văn tế thật sự đã đặt nhân vật trong tình huống có vấn đề. Đó là quan hệ giữa sống và chết, giữa người dân và dân tộc, giữa tình thương, những mối ràng buộc nhân sinh và yêu cầu phải xả thân, giữa truyền thống anh hùng và truyền thống nhân đạo. Bài Văn tế đã giải quyết xuất sắc bài toán nghệ thuật đó, đã bằng nghệ thuật ngôn từ mà chinh phục được độc giả trước một vấn đề phức tạp của tâm hồn.

Sự kiện 21 ( có sách nói là 15) nghĩa quân hy sinh trong trận đánh úp đồn Pháp ở Cần Giuộc trên đất Gia Định vào đêm 14 tháng 12 năm 1861 là một sự thật lịch sử quật cường. Nhưng hình tượng trong bài Văn tế có sức tác động sâu hơn một sự thật lịch sử. Đó là do cái tài và cái tâm của tác giả. Hình tượng nghệ thuật của Đồ Chiểu có khả năng nhắn nhủ người ta, đánh thức tâm hồn người ta về những điều rộng hơn và sâu sắc hơn bản thân sự thật lịch sử vì ông đã đúc kết được một hệ thống rất có sức gợi cảm những chi tiết về số phận , hành động của người dân cày trong lịch sử ở hai cực biến động của nó: khi làm ăn côi cút vô danh; lúc tự nhận trách nhiệm lớn lao trên vũ đài lịch sử dân tộc. Cái mới lạ , cái tầm mở rộng nhận thức đột ngột đó đối với hiện thực chính là ở chỗ nhà thơ đã chỉ ra sự thống nhất hai chiều tồn tại kia của nhân vật thành một thực thể điển hình: cái tâm sự băn khoăn hàng giờ , hàng khắc “ trông tin quan như trời hạn trông mưa” cùng với cái thân phận “ côi cút làm ăn” hai sương một nắng đã hoà với nhau làm một, từ tâm lí ghét cỏ dại luôn thường trực để rồi khi kẻ thù ló dạng họ liền có cái để so sánh “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”. Lòng yêu nước âm thầm ấy đã nhập vào cái âm thầm của cuộc đời lao động cần cù , nghèo khó kéo dài bất tận trong lịch sử phong kiến để rồi thỉnh thoảng lại bùng lên “ kết thành những làn sóng vô cùng mạnh mẽ” khi Tổ quốc lâm nguy. Đó chính là đóng góp lớn của Đồ Chiểu, là cái gốc tạo nên sức rung động, cảm kích sâu xa ở người đọc trước hình tượng nghệ thuật do ông xây dựng.

Bằng hình tượng nghĩa binh Cần Giuộc, Đồ Chiểu đã phát hiện được cái chân lí về sức mạnh cơ bản hằng tồn, đầy tính sáng tạo về đặc thù của dân tộc Việt Nam. Lôgich nghệ thuật của Văn tế…là đã tạo ra cái độ căng quyết liệt giữa thử thách lớn của tình huống và sự “trắng tay” của con người về những tiền đề vật chất cần thiết cho cuộc chiến đấu. Bảo bối của họ không gì khác hơn là một ý chí không gì lay chuyển nổi để vượt tình thế. Họ tự trang bị, vũ trang cho họ bằng bất cứ cái gì họ có trên cơ sở một truyền thống tự lực tự cường đã ăn sâu vào máu thịt và tâm khảm của họ từ bao đời cha truyền con nối trên đất nước đầy thiên tai , địch hoạ này. Bằng cách đó , Nguyễn Đình Chiểu đã đặt chân vào con đường lớn để đi về hiện đại trên lập trường nhân dân , dân chủ .

Cuối cùng là sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp hiện thực và bút pháp trữ tình nhằm nêu bật cái gan chịu trách nhiệm, cái đạo thuỷ chung sâu thẳm vào người dân như một sức năng động nối liền nghĩa vụ hào hiệp với tình thương, nối cái mất mát tổn thất với cái trường tồn đã dẫn đến một quy mô cảm xúc, một tầm thước biểu cảm rất rộng trong không gian và thời gian lịch sử, trong số phận và tâm khảm con người:
‘ Tấc đất , ngọn rau ơn Chúa, tài bồi cho nước nhà ta; bát cơm manh áo ở đời mắc mớ chi ông cha nó”
“Chùa Tông Thạnh năm canh ưng đóng lạnh, tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm…”
“ Sống đánh giặc thác cũng đánh giặc linh hồn theo giúp cơ binh,muôn kiếp nguyện được trả thù kia..”

Hình tượng người nông dân trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một phát hiện mới mẻ và có giá trị nhận thức, giáo dục và thẩm mĩ. Đó thật ra là những con người vốn có từ lâu đời, nhưng cũng chỉ thật sự nổi bật lên vào giai đoạn lịch sử này, khi người anh hùng phong kiến đang tự nó rút khỏi vũ đài chính trị. Dưới ngòi bút Nguyễn Đình Chiểu, đó là những con người rất xưa nhưng cũng rất mới. Họ như những vỉa trầm tích ngàn đời và vụt “vươn vai Phù Đổng” trong bước ngoặt lịch sử đặc biệt của dân tộc ta. Nhà thơ mù yêu nước xứ Đồng Nai đã dốc trọn cả cuộc đời phấn đấu cho lí tưởng của mình để đi tìm, dựng tượng đài cho con người ấy. Và trong lịch sử văn học nửa cuối thế kỉ XIX cũng chỉ có một mình ông tìm được, dựng được. Phát hiện của ông không trái với nhãn giới của Nho gia nhưng ông đã di xa hơn điểm dừng lại của tất cả các tác giả Nho gia truyền thống. Hơn ai hết, Nguyễn Đình Chiểu xúc động sâu sắc trước thân phận những con người bình thường, trướng những phẩm chất cao đẹp của họ trong một giai đoạn lịch sử “nước sôi lửa bỏng”. Chính ở điểm đó ông đã tạo được bước đột biến trong sự phát triển văn học dân tộc.
«««

Tóm lại, với Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, lần đầu tiên trong nền văn học dân tộc, Nguyễn Đình Chiểu đã khắc hoạ và ca ngợi người nông dân Nam Bộ như những anh hùng thời đại đã tự giác sống, chiến đấu và hy sinh vì đại nghĩa dân tộc, là người gánh vác sự nghiệp cứu nước trên đôi vai trong khi triều đình phong kiến bạc nhược luôn chủ hoà , chủ bại, vận mệnh dân tộc bị đặt trong thế “ nghìn cân treo sợi tóc”. Giáo sư Trần Văn Giàu, người đã từng nhiều năm sống , chiến đấu trên mảnh đất Nam bộ, nhiều năm nghiền ngẫm văn chương, tư tưởng của Nguyễn Đình Chiểu đã khẳng định: “ Cụ là văn sĩ đầu tiên ca ngợi lòng yêu nước, chí quật cường của bần nông, một trình độ và tính chất yêu nước quật cường đặc biệt cao quý của những người dân lân , dân ấp (…) Thật suốt hàng ngàn năm sáng tác cho đến đấy và còn lâu về sau nữa, chưa có một thi nhân nào rung cảm chân thành và sâu sắc với dân cày như thầy Nguyễn Đình Chiểu của chúng ta, chưa có ai như Nguyễn Đình Chiểu đắp nên tượng lộng lẫy của người nông dân anh hùng cứu nước” [7, 234]. Nhìn rộng ra trong bối cảnh toàn cầu cũng như trong khu vực, nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương nhận xét: “ Trong tương lai khi bộ phận văn học đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc trên phạm vi toàn thế giới được khảo sát một cách khoa học, Nguyễn Đình Chiểu chắc chắn sẽ dược ghi nhận như một trong những tên tuổi có cống hiến nổi bật” [3 ; 311 ]

Với những gì đã đề cập bên trên chúng ta có thể dễ dàng đồng ý với của GS Nguyễn Đình Chú- trong bài viết Những khuynh hướng lớn trong tiến trình vận động của lich sử văn học Việt Nam- khi ông nhận định: “ Riêng bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu thì đáng được xem là một hiện tượng đột khởi mới lạ về quan điểm nhân dân” [2; 8], là tác phẩm tiêu biểu bậc nhất cho khuynh hướng dân chủ hoá trong chủ đề yêu nước chống xâm lăng xuyên suốt 10 thế kỉ văn học trung đại Việt Nam.
 

ADS
Tags
cần, của, chủ, dân, giuộc, hóa, nghĩa, quá, , tế, thời, trình, trong, trung, vn, văn, đại
Ðiều Chỉnh
Xếp Bài




© Tuthienbao.com- TTB chúng tôi không cung cấp chức năng đăng ký thành viên để viết bài hay bình luận - Nếu có khiếu nại chung tôi sẽ xử lý
truyen tranh hay, truyen tranh online, ebook,ebook ngon tinh, van hoc lop 5,van hoc lop 6,van hoc lop 7,van hoc lop 8,van hoc lop 9,van hoc lop 10,van hoc lop 11,van hoc lop 12,
Powered by: vBulletin v3.8.2 Copyright ©2000-2024, Jelsoft Enterprises Ltd.